A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Châu Trà My (19/3/1947 - 19/3/2022). Truyền thống vẻ vang của Đảng bộ huyện qua 75 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành.

I. Hoàn cảnh ra đời và vai trò lãnh đạo của Ban cán sự đảng, Uỷ Ban hành chính Châu Trà My trong công cuộc chiến đấu, xây dựng và phát triển.

    Hoàn cảnh ra đời của Châu Trà My.

           Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, dưới ách thống trị của thực dân Pháp và bọn Phong kiến tay sai đời sống của đồng bào các dân tộc Trà My vô cùng khổ cực, bị áp bức, bốc lột, đàn áp dã man. Nhân dân trong vùng đã nổi dậy hưởng ứng và tham gia các phong trào đấu tranh chống thực dân, phong kiến tay sai tiêu biểu như phong trào Nghĩa hội Quảng Nam do Tiến sĩ Trần Văn Dư làm Hội chủ được tổ chức tại Sơn phòng Dương Yên (xã Trà Dương) vào tháng 8/1885, phong trào khởi nghĩa của ông Thăng Mậu năm 1910, Phong trào Nước Xu năm 1936- 1938, khởi nghĩa của Xen Đung,... Các cuộc khởi nghĩa tuy lần lượt bị thất bại và bị dìm trong biển máu, song đây là điều kiện thuận lợi để ươm mầm hạt giống cách mạng, bước đầu tiếp thu đường lối cách mạng của Đảng và Bác Hồ.

           Ngày 19/3/1945, phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương; cao trào kháng Nhật, cứu nước, thúc đẩy tình thế cách mạng trong nước mau chóng chín muồi. Từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Cao trào khởi nghĩa giành chính quyền cuồn cuộn dâng lên khắp ba miền Bắc, Trung, Nam.

          Ở Quảng Nam, Hội An và một số phủ, huyện đồng bằng cũng tiến hành khởi nghĩa. Quảng Nam trở thành một trong bốn tỉnh lỵ khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi đầu tiên trong cả nước. Khi chính quyền ở các phủ, huyện về tay nhân dân, Ủy ban bạo động khởi nghĩa tỉnh phái một trung đội lực lượng vũ trang do đồng chí Hồ Tuân chỉ huy và đồng chí Nguyễn Tuân là cán bộ chính trị đi lấy đồn Trà My. Sáng ngày 23/8/1945, ta tổ chức mít tinh tại sân đồn Trà My. Đồng chí Nguyễn Tuân đọc và giải thích 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh, sau đó làm Lễ ra mắt Ủy ban lâm thời quản lý đồn Trà My. Đồn Trà My về tay lực lượng cách mạng, nhân dân các dân tộc huyện Trà My được hoàn toàn giải phóng.

         Tháng 12 năm 1946, Phòng Liên lạc quốc dân thiếu số Trà My hình thành, gồm 12 cán bộ, về sau tỉnh tăng cường thêm bốn cán bộ nữa và chọn nhà thương (Trạm xá) ở đồn Trà My làm nơi đóng quân. Nhờ có đội ngũ cán bộ trẻ, nhiệt tình cách mạng, có tổ Đảng làm nòng cốt, ngay từ đầu, Phòng Liên lạc Quốc dân đã hoạt động sôi nổi, liên tục tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở địa phương.

           Tháng 1 năm 1947, đồng bào dân tộc Cor ở vùng thấp Trà My đã tổ chức trọng thể Đại hội đoàn kết các dân tộc thiểu số, dưới sự chủ trì của Phòng Liên lạc Quốc dân thiểu số Trà My. Sau Đại hội, từ ngày 17 đến ngày 19/3/1947, theo chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Nam, Đại hội thành lập Châu Trà My và Ủy ban hành chính Châu Trà My được tổ chức tại đồn Trà My. Lúc này, Châu Trà My gồm cả vùng Trà My và Phước Sơn.

          Sau khi thành lập, Uỷ ban hành chính châu Trà My tiếp tục kiện toàn tổ chức, củng cố xây dựng và phát triển các uỷ ban thôn, xã và các đoàn thể cách mạng. Nhờ vậy, phong trào cách mạng ở Trà My ngày càng được tổ chức chặt chẽ, tập hợp được đông đảo các các tầng lớp nhân dân và không ngừng lớn mạnh.

         Cũng trong ngày 19/3/1947, tại cơ quan hành chính châu Trà My, đồng chí Nguyễn Xuân Nhĩ - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đại diện Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh triệu tập cuộc họp toàn thể cán bộ là đảng viên đang công tác tại Trà My để truyền đạt Nghị quyết của Tỉnh ủy về công tác xây dựng Đảng đối với miền núi và thành lập Ban cán sự Đảng châu Trà My. Đồng chí Nguyễn Đáo - Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh châu Trà My làm Bí thư và đồng chí Phạm Diệu - Phó Chủ Tịch Ủy ban Hành chính Châu Trà My làm Phó Bí thư Ban cán sự Đảng châu Trà My. Việc thành lập Ban cán sự Đảng châu Trà My đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng cũng như lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương, là bước chuẩn bị lớn về mặt tổ chức cho việc thành lập Đảng bộ huyện Trà My sau này.

           Sự kiện thành lập Châu Trà My và Ủy ban hành chính châu Trà My có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với nhân dân các dân tộc ở địa phương. Từ đây, các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đóng góp sức người sức của cho kháng chiến đều phát triển có tổ chức, gắn liền với chính quyền cách mạng địa phương.

         Tháng 5/1948, đồng chí Trần Mịch được Tỉnh ủy điều động lên Trà My làm Bí thư Chi bộ ban cán sự Đảng châu Trà My thay đồng chí Nguyễn Đáo. Chỉ trong một thời gian ngắn, Chi bộ Ban cán sự Đảng châu Trà My đã phát triển được 06 đảng viên mới, trong đó có 02 đảng viên công tác tại cơ quan. Cuối năm 1948, Chi bộ Trà Lương (nay là Trà Đông) và Chi bộ Trà Sơn (nay là Trà Dương) được thành lập. Chi bộ Trà Lương (nay Trà Đông) gồm các đồng chí: Lê Đàn, Lê Thảo, Đoàn Thị Liễn do đồng chí Lê Đàn làm Bí thư, Chi bộ Trà Sơn có 03 đảng viên do đồng chí Trà Quang làm Bí thư, Chi bộ Trà Tak Pui có 13 đảng viên. Chi bộ cơ quan lấy biệt danh là Chi bộ Việt Bắc. Sang năm 1949, Chi bộ Việt Bắc, hòa theo phong trào thi đua “phát triển xây dựng Đảng” của cả nước, Chi bộ Việt Bắc tiếp tục thực hiện công tác xây dựng Đảng nhanh hơn, mạnh hơn, đến quý II năm 1949 Trà My có 35 đảng viên. Với số lượng đảng viên tăng nhiều, yêu cầu thành lập Đảng bộ huyện được đặt ra.

       Ngày 28/10/1949, tại Đồng Trầu (nay thuộc thôn 2, xã Trà Giang), lễ tuyên bố thành lập Đảng bộ huyện Trà My được tiến hành trọng thể. Đồng chí Phan Tốn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, thừa ủy nhiệm của Tỉnh ủy Quảng Nam công bố Nghị quyết thành lập Đảng bộ huyện Trà My và công bố Quyết định chỉ định Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ gồm các đồng chí: Trần Mịch, Phạm Diệu, Đoàn Ngọc Bích, Nguyễn Hữu Hoằng và Lê Đàn. Đồng chí Trần Mịch được chỉ định làm Bí thư Huyện ủy.

        Từ những kết quả của việc xây dựng chính quyền ở các địa phương miền núi nói chung, ở Trà My nói riêng, Tỉnh ủy Quảng Nam chủ trương bỏ cấp châu, thành lập các huyện, trong đó có huyện Trà My gồm 14 xã. Sự ra đời huyện Trà My đánh dấu bước ngoặt trong tiến trình phát triển cách mạng của địa phương.

II. Những thành tựu đã đạt được sau 75 năm chiến đấu, xây dựng quê hương Bắc Trà My.

         Thực hiện Nghị định số 72/2003/NĐ-CP, ngày 20/6/2003 của Chính phủ về chia tách huyện Trà My thành hai đơn vị hành chính là huyện Nam Trà My và huyện Bắc Trà My. Việc chia tách huyện Trà My hoàn toàn phù hợp với yêu cầu và nguyện vọng chính đáng của Đảng bộ và nhân dân địa phương, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm anh ninh - quốc phòng, xây dựng hệ thống chính trị của cả hai huyện.

           Sau ngày tái lập, Đảng bộ huyện Nam Trà My tiếp tục tập trung lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, khắc phục khó khăn, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chăm lo ổn định đời sống của các tầng lớp nhân dân; quan tâm công tác bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; chú trọng công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho các tầng lớp nhân dân. Từ một nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, trình độ sản xuất lạc hậu, quy mô nền kinh tế và các ngành sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún; cơ sở hạ tầng giao thông hầu như chưa có gì, thủy lợi chưa được đầu tư để phục vụ cho nhu cầu sản xuất của nhân dân. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Nam Trà My, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân luôn phát huy truyền thống anh hùng trong chiến tranh, ra sức khắc phục khó khăn, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu trong từng thời kỳ, nhất là đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương.

        Đến nay, quy mô nền kinh tế đã tăng lên đáng kể, sản xuất nông nghiệp cơ bản đảm bảo chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Cơ cấu cây trồng, con vật nuôi có nhiều chuyển biến tích cực, nhiều mô hình được tổ chức thực hiện bước đầu có hiệu quả kinh tế như: chuối mốc, heo đen, bò, dê... Triển khai trồng cây dược liệu cho 10/10 xã: sâm Nam, Sa nhân tím, Giảo cổ lam, đương quy, cây quế. Việc quy hoạch trồng và phát triển cây sâm Ngọc Linh trở thành cây sâm Quốc gia đã được Chính phủ phê duyệt, đây là cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao, tạo điều kiện thuận lợi đưa huyện nhà phát triển đi lên. Tổ chức khảo sát đo đạc, khoanh vẽ, cắm mốc, phân lô để thực hiện công tác cho thuê dịch vụ môi trường rừng trồng sâm Ngọc linh (Sâm Việt Nam) giai đoạn 1, tại địa bàn các xã Trà Linh, Trà Nam, Trà Cang, với diện tích là 1.133,28ha/39 nhóm với 749 hộ, có 06 doanh nghiệp được UBND tỉnh thống nhất vào đầu tư phát triển cây Sâm Ngọc Linh đang lập các thủ tục chuẩn bị đầu tư.

      Cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư xây dựng từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân; đến nay đã có 10/10 xã có đường ô tô đến trung tâm xã; mở rộng nhiều tuyến giao thông quan trọng như: mở tuyến đường quốc lộ 40B nối với huyện Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum, tuyến đường lên vùng Sâm Ngọc Linh; xây dựng nhà máy thủy điện Trà Linh III, xây dựng Trung tâm Văn hóa thể thao đảm bảo cho các hoạt động thể thao cấp tỉnh tổ chức tại huyện; xây dựng, mở rộng, nâng cấp các đường liên xã, tuyến đường liên thôn; bêtông hóa giao thông nông thôn. Xây mới và đưa vào sử dụng các trạm y tế, trường học. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp từng bước phát triển, một số ngành nghề truyền thống được phục hồi như nghề dệt thổ cẩm, nghề rèn, rượu cần... Tổ chức thành công hội chợ triển lãm, bình chọn sản phẩm hàng công nghiệp nông thôn và sản phẩm đặc trưng của địa phương đến với các địa phương khác.

     Các chương trình mục tiêu, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số miền núi được thực hiện đảm bảo theo trình tự thủ tục hướng dẫn, định mức, đối tượng được hưởng và đem lại những kết quả đáng kể góp phần cải thiện đời sống của Nhân dân.

     Công tác giáo dục - đào tạo được quan tâm chỉ đạo; trang, thiết bị thiết yếu phục vụ dạy và học được đầu tư mua sắm; công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được đẩy mạnh, đến nay đã có 2 trường học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 1; đội ngũ cán bộ, giáo viên được củng cố cả về số lượng lẫn chất lượng; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS và THPT năm sau cao hơn năm trước. Các chế độ, chính sách cho giáo viên, học sinh được giải quyết đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng. Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm được chú trọng.

     Công tác chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho Nhân dân được nâng lên, các chương trình y tế quốc gia được triển khai đều khắp và hiệu quả; các dịch bệnh, nhất là bệnh sốt rét được khống chế, ngăn chặn kịp thời và từng bước được đẩy lùi.

     Đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân ngày càng được nâng lên; các hoạt động VHVN -TDTT được tổ chức thường xuyên và hướng về cơ sở, thu hút được nhiều tầng lớp Nhân dân tham gia; Hoạt động Đài truyền thanh - Truyền hình huyện ngày càng được cải thiện, phục vụ được yêu cầu xã hội và nhiệm vụ chính trị của địa phương.

     Đời sống Nhân dân từng bước được cải thiện; các chế độ ưu đãi đối với người có công, các đối tượng chính sách được quan tâm tích cực; Công tác giảm nghèo được đặc biệt quan tâm với chủ trương“3 cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang” giúp 1 hộ nghèo đã thật sự giúp nhân dân thay đổi nhận thức vươn lên thoát nghèo bền vững.

    An ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội được giữ vững, công tác quốc phòng, quân sự địa phương được triển khai thực hiện có hiệu quả. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được phát huy thường xuyên và duy trì thực hiện, các chương trình phòng chống tội phạm, phòng chống HIV/AIDS, tệ nạn ma túy, mại dâm được thực hiện tốt, đảm bảo giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

    Công tác cải cách hành chính được tăng cường, UBND huyện thực hiện chủ trương đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, điều hành để nâng cao hiệu quả chuyên môn; xây dựng và đưa vào hoạt động Trung tâm giao dịch 1 cửa huyện; thủ tục hành chính được niêm yết công khai tại trụ sở. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ luôn được quan tâm thực hiện.

    Công tác giáo dục chính trị tư tưởng không ngừng được đổi mới, nâng cao nhận thức và chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng; quan tâm chỉ đạo tổ chức các hoạt động tuyên truyền, kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện quan trọng của đất nước, của địa phương. 

    Kiện toàn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở và đi vào hoạt động ổn định, đảm bảo lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Kết quả phân loại Tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên hằng năm được thực hiệm nghiêm túc, đánh giá đúng thực chất vai trò lãnh đạo, năng lực điều hành, tổ chức thực hiện của Tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên. Công tác phát triển đảng viên được các cấp, ngành chú trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho học tập để nâng cao lý luận, chính trị của từng đảng viên; đến nay toàn huyện có 42 tổ chức cơ sở đảng, có 1568 đảng viên.

    Kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập châu Trà My (19/3/1947 - 19/3/2022) là dịp để cán bộ, nhân viên, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn huyện cùng ôn lại truyền thống vẻ vang của Đảng bộ huyện qua 75 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành; đồng thời giáo dục truyền thống cách mạng, niềm tự hào dân tộc, quyết tâm thực hiện thành công các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX đã đề ra. 

III. Phương hướng, mục tiêu và quyết tâm xây dựng quê hương Bắc Trà My.

    Đó là kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Việc triển khai thực hiện các khâu đột phá bước đầu đã đem lại hiệu quả. Một số dự án đầu tư về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp được triển khai thực hiện hứa hẹn sẽ mở ra hướng phát triển mới.

    Công tác quy hoạch và trồng rừng gỗ lớn, cây dược liệu, bảo tồn và phát triển cây quế Trà My, phát triển đàn bò, nuôi cá lồng bè trên lòng hồ thủy điện bước đầu đem lại kết quả tích cực. Bản sắc văn hóa của các dân tộc được tôn vinh, giữ gìn... Trong công tác xây dựng Đảng, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng từng bước được nâng lên.

    Công tác tuyên truyền thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. và các sự kiện chính trị quan trọng, nhất là Đại hội Đảng các cấp được thực hiện nghiêm túc, kịp thời. 

Quang cảnh biểu quyết nội dung của Hội nghị
Tập trung phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, xúc tiến đầu tư, kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư, tạo sự hợp tác, liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp; gắn với công nghiệp chế biến, thương mại - dịch vụ và du lịch nông thôn. Có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các hoạt động ứng dụng công nghệ và hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo. Bắc Trà My có nhiều di tích lịch sử, các giá trị văn hóa và địa điểm thiên nhiên lý tưởng, vì vậy cần phải tranh thủ mọi nguồn lực, tập trung liên kết, kết nối với các địa phương trong và ngoài tỉnh để phát triển du lịch,
 

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết